Cuộc đời của tỷ phú giàu nhất nước Đức

Từ con trai của người thợ mỏ, Karl Albrecht cùng em trai sáng lập chuỗi siêu thị giá rẻ Aldi với khối tài sản gần 30 tỷ USD.

Aldi được đánh giá là mô hình siêu thị bán lẻ thành công nhất tại Đức, với mức giá rẻ hơn 30% so với các cửa hàng khác. Chuỗi siêu thị có hơn 3.200 chi nhánh và 50.000 nhân viên. Theo thống kê của công ty, 87% người Đức mua sắm tại Aldi.

Thành lập từ những năm 1940, thương hiệu này đã giúp hai anh em Karl và Theo Albrecht giữ vững ngôi vị người giàu nhất nước Đức trong liên tục nhiều năm.

Xuất thân từ một gia đình không mấy giàu có, cha của Karl là một thợ mỏ, nhưng đã bị đuổi việc bởi căn bệnh viêm phổi do lao động quá sức ở môi trường độc hại. Mẹ ông lúc đó phải mở một quán tạp hóa bán đồ lặt vặt để nuôi sống gia đình với cái tên “Tạp hóa dì Emma”.

Cả hai anh em đều tham gia Chiến tranh Thế giới lần thứ II, nhưng chiến đấu ở hai mặt trận khác nhau. Khi giải ngũ, họ trở về quê nhà là thành phố Essen. Dù cả khu vực bị bom đạn chiến tranh tàn phá, tiệm tạp hóa nhỏ của gia đình vẫn không bị thiệt hại gì.

Karl Albrech

Karl Albrech, đồng sáng lập thương hiệu Aldi, chuỗi siêu thị lớn nhất tại Đức. Ảnh: Independent.

Không muốn bán sức lao động ở những hầm mỏ như cha mình, hai anh em quyết định tiếp quản và xây dựng tiệm tạp hóa bằng cách học hỏi về thương mại. Karl cũng làm thuê tại một cửa hàng đồ ăn để lấy kinh nghiệm.

Hai người bán các nhu yếu phẩm và hạn chế các mặt hàng dễ hỏng như đồ tươi sống, với suy nghĩ là người lao động tại khu vực họ sinh sống không quan tâm nhiều đến thương hiệu hàng hóa mà chỉ cần giá rẻ, trong khả năng mua sắm là được. Thiệt hại từ chiến tranh buộc người dân Đức lúc bấy giờ phải sống tiết kiệm và chiến lược của hai anh em đã phát huy tác dụng.

Để cắt giảm chi phí hàng hóa và tăng sức cạnh tranh, Karl tìm đến những nhà cung cấp nhỏ lẻ, ít tên tuổi. Tiệm của hai anh em cũng không bày sản phẩm lên tủ kệ để tiết kiệm chi phí vật dụng mà chỉ để sẵn trong thùng carton giấy.

Vào năm 1954 họ đã mở đến 50 chi nhánh và hoạt động theo nguyên tắc hàng hóa tốt nhất với giá thấp nhất. Dù không có bất cứ chiến lược quảng cáo gì nhưng cửa hàng nhanh chóng được biết đến nhờ hiệu ứng truyền miệng.

Thương hiệu Aldi chính thức thành lập vào năm 1961, viết tắt của cụm từ “Albrecht discount”, có nghĩa là “cửa hàng giảm giá nhà Albrecht”. Karl và Theo đều nhận sự ngưỡng mộ lẫn dè chừng từ các nhà cung cấp hàng hóa bởi khả năng đàm phán triệt để cắt giảm mọi chi phí một cách tối đa, đảm bảo sản phẩm luôn ở giá thấp nhất có thể.

Hệ thống siêu thị Aldi có hơn 3.200 chi nhánh tại Đức và 50.000 nhân viên. Ảnh: AFP.

Hai anh em luôn là người đầu tiên tắt đèn trong cửa hàng để tiết kiệm tiền điện. Họ cũng yêu cầu nhân viên sử dụng bút chì cho đến khi không thể gọt được nữa và rất ít mua sắm quần áo mới.

Vào những năm cuối thập niên 60, Aldi có khoảng 2.000 chủng loại hàng hóa và hệ thống hơn 300 cửa hàng tại Tây Đức. Karl chỉ có duy nhất một thú vui xa xỉ là chơi golf và đó cũng là lý do khiến ông xây dựng khách sạn golf tại miền nam nước Đức vào năm 1976. Ông cũng nổi tiếng khó tính trong việc lựa chọn đối tác.

Tuy nhiên, hai anh em lại bất đồng quan điểm về việc bán thuốc lá tại cửa hàng, dẫn đến việc tách Aldi thành 2 khu vực phát triển song song. Karl, người kiên quyết không ủng hộ việc bán thuốc, nắm quyền quản lý các cửa hàng khu vực phía nam đất nước và thành lập nên Aldi Sud. Theo ở phía Bắc và gây dựng Aldi Nord. Cả hai công ty đều có mối liên hệ qua lại tốt đẹp nhằm phát triển thương hiệu chung Aldi.

Karl nhanh chóng mở rộng thương hiệu ra khu vực phía nam châu Âu, riêng tại Anh có hơn 400 cửa hàng. Cả hai công ty dần phát triển ra Mỹ, toàn bộ châu Âu và Australia với hơn 10.000 siêu thị, cạnh tranh mạnh mẽ với chuỗi Walmart (Mỹ), Tesco (Anh) và nhiều hãng phân phối bán lẻ khác ở châu Âu như Carrefour.

Karl được coi là người đi tiên phong trong việc đưa những mô hình quản trị mới vào thế giới kinh doanh, và là cha đẻ của khái niệm “quay vòng khách hàng” kiểu Mỹ cũng như cách thức quản trị dịch vụ.

Cuộc suy thoái kinh tế năm 2007 – 2008 không gây ảnh hưởng đến đế chế nhà Albrecht mà còn tạo điều kiện cho chuỗi siêu thị giá rẻ này lên ngôi vì người dân phương Tây đa phần chọn cách “thắt lưng buộc bụng” khi mua sắm nhu yếu phẩm.

Dù đối tượng ban đầu là tầng lớp lao động và trung lưu nhưng khi nền kinh tế Đức đã hồi phục, chuỗi siêu thị thu hút cả người giàu đến mua sản phẩm giá rẻ.

Karl được coi là người đi tiên phong trong việc đưa những mô hình quản trị mới vào thế giới kinh doanh, và là cha đẻ của khái niệm “quay vòng khách hàng” kiểu Mỹ cũng như cách thức quản trị dịch vụ. Cuốn sách Service America: Doing Business in the New Economy của ông đã bán được tới hơn nửa triệu bản và dịch sang 7 thứ tiếng.

Người giàu nhất nước Đức đã mất vào năm 2014 ở tuổi 94. Quyền điều hành thương hiệu Aldi chuyển giao cho hai con của ông là Beate Heister và Karl Albrecht Jr. Hai doanh nhân này đứng thứ 27 trong bảng xếp hạng 400 tỷ phú giàu nhất thế giới do Forbes công bố năm 2018.

Những lý do khó tưởng tượng khiến tượng đài “Made in Japan” sụp đổ

Chưa bao giờ, thương hiệu “Made in Japan” lại chịu những tai tiếng tồi tệ như lúc này. Những bê bối làm giả dữ liệu của những thương hiệu hàng đầu khiến niềm tin sụp đổ lại bắt nguồn từ những lý do khó tưởng tượng nhất.

Với hi vọng có thể khôi phục danh tiếng, Tập đoàn thép Kobe Steel đã cho ra mắt một hệ thống mới nhằm ghi lại tất cả dữ liệu của quá trình thử nghiệm cũng như kiểm duyệt tại một nhà máy sản xuất nhôm ở thành phố Moka, tỉnh Tochigi. “Hệ thống mới chắc chắn sẽ không để xảy ra tình trạng gian lận dữ liệu, kể cả khi có người cố ý làm việc đó.” một người có kinh nghiệm làm việc với hệ thống vừa được đưa lên mạng vào hồi tháng 2 này cho biết.

Cho dù hệ thống này hoạt động có thực sự hiệu quả hay không thì Kobe Steel và các nhà sản xuất đã từng gặp bê bối khác của Nhật Bản vẫn nên tự đặt câu hỏi cho chính mình: “Tại sao ngay từ đầu, các nhân viên đã có ý định làm giả số liệu?”

Cũng như các trường hợp tương tự của hãng ôtô Nissan, Tập đoàn công nghiệp nặng Kawasaki và một số hãng khác đã cho thấy câu trả lời là ba nguyên nhân sau đây, sự thiết hụt lao động, mâu thuẫn và bất đồng giữa ban quản lý và các nhân viên thừa hành, và cuối cùng là chất lượng được đề cao quá mức cần thiết.

Những vấn đề mang tính cực đoan như thế này rất khó để xử lý, thế nhưng tương lai của các thương hiệu “Made in Japan” lại phụ thuộc vào việc giải quyết và khắc phục chúng.

Các lãnh đạo Kobe Steel xin lỗi vì scandal dữ liệu giả.

Các vấn đề Kobe Steel gặp phải cũng cho thấy những áp lực mà các nhà sản xuất Nhật Bản đang phải đối mặt. Theo một báo cáo điều tra nội bộ được công bố vào ngày 6 tháng 3, các công đoạn sản xuất nhôm và đồng tại các nhà máy thép – hoạt động sinh lãi chính, đã gặp khó khăn trong một thời gian dài và chỉ đóng góp một phần nhỏ vào lợi nhuận sau thuế. Để thay đổi điều này, Kobe Steel quyết định sẽ tiếp nhận các đơn đặt hàng cung cấp nhôm và đồng, ngay cả khi khả năng sản xuất không thể đáp ứng và hoàn thành như đã hẹn.

Báo cáo cũng ghi rõ, nếu những đơn hàng này không được giải quyết thì rất có thể nhà máy sẽ bị đình chỉ hoạt động.

Việc giả mạo dữ liệu đã “nhen nhóm” từ khoảng năm 1992 theo sự chỉ dẫn của người đứng đầu đơn vị đảm bảo chất lượng. Người này sau đó đã được thăng chức lên làm phó chủ tịch nhưng lại không báo cáo về những “điều bất thường” cho hội đồng quản trị.

Lịch sử hoạt động của Kobe Steel khởi nguồn từ tháng 9/1905 khi một công ty thương mại có tên Suzuki Shoten, một trong những nhà mua bán hàng đầu tại Nhật Bản vào những năm 1900. Công ty đã mua lại doanh nghiệp sản xuất thép Kobayashi Seikosho tại Wakinohama, Kobe. Ngay sau đó, các hoạt động được đa dạng hoá và hiện nay đã có 7 lĩnh vực kinh doanh chính, trong đó có thép, nhôm, đồng và điện. Mỗi lĩnh vực đều hoạt động một cách độc lập như những công ty khác nhau.

Cơ cấu phân tầng phức tạp này đã tạo ra những rào cản trong công ty gây cản trở trong việc kết nối và tạo cơ hội cho mầm mống của những rắc rối hiện tại. Tình hình trở nên trầm trọng hơn bởi sự bất hoà giữa ban quản lý và công nhân. Một báo cáo điều tra nội bộ được ban hành vào hồi tháng 10 với tiêu đề “Việc không tuân thủ theo chỉ dẫn về báo cáo chất lượng tại Tập đoàn thép Kobe”. Ban giám đốc đổ lỗi cho các công nhân sản xuất vì thiếu trách nhiệm trong việc tố giác việc làm giả dữ liệu.

Nhà máy của Kobe Steel tại Hyogo, Nhật Bản: Công ty đã thừa nhận về việc làm giả dữ liệu đối với các sản phẩm nhôm và đồng.

Tương tự như trường hợp của Tập đoàn Mitsubishi Materials: Trong một cuộc họp báo được tổ chức vào tháng 12 năm ngoái, chủ tịch Akira Takeuchi đổ lỗi việc giả mạo dữ liệu “là sự kém tuân thủ của những người trực tiếp tham gia vào những việc làm sai trái”.

Vào thời kỳ tăng trưởng nhanh sau chiến tranh, các hoạt động kinh doanh đã có nhiều khởi sắc, các công nhân nhà máy được tăng lương và trợ cấp. Các nhân viên thừa hành đều tích cực đóng góp vào quá trình nâng cao chất lượng sản phẩm, trong đó có việc thành lập các “nhóm quản lý chất lượng”. Không lâu sau, các nhà sản xuất nước này trở nên nổi danh một cách nhanh chóng.

Nhưng cho đến những năm 1990 và là thời kỳ bong bóng kinh tế ở Nhật Bản, đồng Yên tăng giá đã kích thích các xí nghiệp của Nhật Bản đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Nhà quản lý chỉ tập trung vào việc tăng lợi nhuận khiến cho các công nhân không thể đảm bảm thời gian, công sức trong quá trình nâng cao chất lượng sản phẩm. Theo Hiệp hội các nhà khoa học và kỹ sư Nhật Bản (JUSE), số lượng các “nhóm kiểm tra chất lượng” lên đến đỉnh điểm là khoảng 27.000 trong năm tài chính 1984 và hiện tại chỉ còn hơn 1000.

Vụ bê bối của Nissan có liên quan đến việc kiểm duyệt không đúng cách tại nhà máy Oppama ở tỉnh Kanagawa. Để nhà máy có thể tiếp tục hoạt động, các nhân viên phải làm việc cật lực nhằm cắt giảm các loại chi phí, khiến cho việc sản xuất các loại ôtô mới buộc phải di dời đến các nhà máy khác và chuyển đến Oppama vào năm 2016. Tuy đã làm việc gần hết công suất nhưng nhà máy không đủ số lượng nhân viên để thực hiện quy trình giám định. Vậy mà vấn đề lại được giải quyết bằng cách thực hiện các thủ tục giám định một cách cẩu thả.

Các ngành công nghiệp Nhật bản đẩy mạnh việc sản xuất ở nước ngoài.

Một cán bộ của Bộ Giao thông vận tải đưa ra câu hỏi: “Tại sao các công nhân lại không lên tiếng về việc này?”

Trong cuộc họp báo vào tháng 10 năm ngoái, Chủ tịch Nissan Hiroto Saikawa cho biết những đợt giám định lỗi có lẽ không phải do tình trạng thiếu lao động. Tuy nhiên, theo một báo cáo điều tra do các luật sư đưa ra một tháng sau đó thì “Không có sự tính toán cụ thể nào được đưa ra để đảm bảo việc nhà máy luôn có đủ công nhân” cho thấy sự thiếu liên kết giữa nhà quản lý và nhân viên.

Đồng thời, toàn bộ ngành sản xuất của Nhật Bản đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng. Vào tháng 1, Kobe Steel đã thành lập một chi nhánh mới tại trụ sở chính để giám sát chất lượng tổng thể. Đầu tháng này, công ty đã đăng thông báo mở cho một vị trí nhân viên thường trực làm việc tại Tokyo của bộ phận này với mức lương 6,5 triệu yên (tương đương 61,260 đô la Mỹ) cho tới 13 triệu yên.

Việc cạnh tranh người lao động đang nóng lên trong các ngành công nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý chất lượng, dù đây không phải là một lĩnh vực phổ biến trong ngành sản xuất. Dữ liệu từ trang web tìm kiếm việc làm En-Japan cho thấy số lượng việc làm cho vị trí quản lý chất lượng trong lĩnh vực điện tử đã tăng 350% trong giai đoạn 3/2014-3/2018 và khoảng 400% đối với lĩnh vực máy móc, điện tử cơ và ô tô. Các nhà sản xuất đang tìm kiếm nhân công trong tuyệt vọng đến nỗi họ còn tháo bỏ những giới hạn về tuổi tác, ví dụ như việc hạn chế tuyển ứng viên 40 tuổi trở xuống.

Người lao động cho các dây truyền sản xuất cũng khó kiếm. Mức lương trung bình hàng giờ cho lao động bán thời gian tại các cửa hàng tiện lợi vào tháng 1/2018 đã tăng 4% so với 3 năm trước đó. Trong khi đó chi phí cho việc sản xuất đã tăng 13%, theo một cuộc khảo sát của Persol Career. Tuy nhiên, mức lương cao vẫn chưa giải quyết được vấn đề thiếu hụt lao động. Nhiều nhà sản xuất phải dựa vào lực lượng lao động tạm thời như một phương án cuối cùng, nhưng ngay cả khi họ tìm đủ ứng viên thì việc dựa vào nhân viên tạm thời lại phát sinh một vấn đề khác – khó đảm bảo việc duy trì chất lượng.

Gần như 100% các công ty sản xuất phải đối mặt với tình trạng thiếu nhân lực.

Chuỗi vụ bê bối dữ liệu đã làm rõ một vấn đề khác mà các nhà sản xuất Nhật Bản phải đối mặt: Việc đặt các tiêu chí chất lượng quá cao.

Tháng 11 năm ngoái, khi những vụ bê bối tràn ngập trên các phương tiện truyền thông, một nhân viên bán hàng tại một công ty sản xuất phụ tùng đặt trụ sở tại Tokyo đã thuyết phục những khách hàng- nhà sản xuất rô bốt đồng ý với việc giảm bớt việc kiểm định chất do thiếu thốn nhân lực và thiết bị kiểm định. “Số liệu về độ bền nằm trong phạm vi yêu cầu bất kể chúng tôi thực hiện bao nhiêu lần kiểm tra đi nữa, vì vậy không có vấn đề gì về độ bền và an toàn ngay cả khi chúng tôi ít kiểm tra hơn”. Tuy nhiên, người phụ trách nguồn hàng không bị thuyết phục.

Một công ty con của Toray Industries cũng tham gia vào việc bịa đặt dữ liệu, trong trường hợp này là dây lốp, được sử dụng để tăng cường độ bền cho lốp xe ô tô. Công ty con có hợp đồng cung cấp dây lốp với sức mạnh 260 mã lực, nhưng sản phẩm họ giao cho khách hàng mới chỉ đạt 258 mã lực. Vấn đề này không ảnh hưởng nhiều tới sự an toàn – sự khác biệt chỉ là 0.8%; một công ty đối thủ còn cho hay chỉ cần 250-255 mã lực là đủ để đảm bảo an toàn và nhiều ví dụ khác cho thấy việc công ty này đã vi phạm hợp đồng.

Theo một thông lệ gọi là “tokusai”, các nhà sản xuất ở Nhật Bản được phép giao những sản phẩm không đạt chất lượng tiêu chuẩn chất lượng đã thỏa thuận trước, miễn là họ nhận được sự đồng ý của khách hàng. Loại thỏa thuận này thậm chí còn được quy định trong những tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản.

Chủ tịch của Toray- Akihiro Nikkaku, tuy nhiên, nói “Chúng ta cần một sự thay thế cho tokusai“. Ông đề xuất các hợp đồng đặt ra các điều kiện nghiêm ngặt và rõ ràng về chất lượng sản phẩm, bao gồm sức mạnh và độ bền để không còn diễn ra việc thương lượng sau khi giao hàng.

“Những gì được coi là chất lượng phù hợp đối với nhựa và khuôn đúc ở Nhật khác với những gì được xem là phù hợp ở Mỹ và Châu Âu” Hideki Kobori, chủ tịch của Asahi Kasei cho hay.

Để cạnh tranh trên thị trường nội địa đã quá chật chội, các nhà sản xuất và nhà cung cấp nguyên liệu Nhật Bản cần phải đưa ra mức chất lượng ngày càng nâng cao, ngay cả khi mức đó vượt quá nhu cầu của người sử dụng. Trong khi đó, các nhà sản cung cấp nguyên liệu hàng đầu của Đức BASF và Thysenkrupp chỉ cung cấp sản phẩm vừa đủ đạt chất lượng cho những nhà sản xuất ô tô châu Âu. Điều này giúp loại bỏ việc theo đuổi chất lượng một cách quá mức, dẫn đến việc làm tăng chi phí sản xuất.

“Trong ngành công nghiệp sản xuất của Mỹ và châu Âu, dữ liệu về chất lượng trong hợp đồng là quan trọng nhất, và chất lượng của sản phẩm phân phối không được cao hơn hoặc thấp hơn, vì vậy thỏa thuận tokusai có lẽ không thể áp dụng tại những thị trường này”. Yuji So, người đứng đầu trung tâm sáng tạo chất lượng của JAM Consultant cho hay: “Cần một hệ thống để đảm bảo sự tuân thủ nghiêm ngặt về chất lượng và giá cả đã thỏa thuận với khách hàng”

Các vụ bê bối gần đây đã gây ra một cú sốc nghiêm trọng đối với danh tiếng về chất lượng sản phẩm của Nhật bản. Việc khôi phục danh tiếng sẽ không chỉ cần sự hợp tác giữa quản lý và người lao động mà còn cần cách tư duy mới về mối quan hệ giữa các tập đoàn và khách hàng của họ.

Foxconn chi hàng trăm triệu USD để hồi sinh Nokia

Cuộc hồi sinh đầy ngoạn mục của Nokia đã nhận được sự đón nhận nồng nhiệt từ phía người dùng, tạo sự hứng khởi tại một số thị trường, ẵm nhiều giải thưởng danh giá và đưa thương hiệu vốn rất được yêu thích trên toàn cầu này có doanh số đáng mơ ước trong năm 2018.

Vấn đề duy nhất mà người ta để ý thấy trong lần trỗi dậy này là những smartphone và điện thoại cơ bản (feature phone) mang thương hiệu Nokia đã và đang tiêu tốn những chủ sở hữu mới của thương hiệu này một lượng tiền đáng ngạc nhiên, ngay cả khi họ tạo được doanh số bán ra cực kỳ ấn tượng.

Tất nhiên, sẽ thật là phi thực tế nếu nghĩ chỉ cần mua cái tên Nokia và gắn nó vào hàng tá điện thoại mới là đã có thể trồng được một cái cây với lá làm từ tiền. Nhưng những số liệu thực tế lại tàn nhẫn hơn nhiều so với dự đoán.

Trước tiên, nên biết rằng, đằng sau sự hồi sinh của thương hiệu Nokia là hai công ty: HMD Global Oyj – một công ty Phần Lan sở hữu các nhân viên kỳ cựu trước đây của Nokia, và FIH Mobile (một phân nhánh của Foxconn) – sở hữu mảng sản xuất điện thoại cơ bản của Nokia. FIH cũng sở hữu một phần nhỏ trong HMD, và cùng nhau, liên minh này đã đổ một lượng vốn đáng kể để hồi sinh thương hiệu Nokia vĩ đại ngày xưa.

Biểu đồ doanh thu và lợi nhuận thuần của FIH trong năm 2017,

Trong năm 2017, FIH đạt được doanh thu kỷ lục, nhưng xét về lợi nhuận, đây là năm thấp kỷ lục của hãng sản xuất smartphone này. Tại châu Âu, doanh thu của FIH tăng mạnh, gần gấp 10 lần năm 2016, đạt mức gần 1,7 tỷ USD. Trong khi đó, lợi nhuận năm 2017 giảm đến 160 triệu USD so với năm 2016, một con số không hề nhỏ. Cần phải nói rõ rằng mọi hoạt động của FIH tại châu Âu đều liên quan đến Nokia!

Hãng tin Bloomberg phỏng đoán rằng tại châu Á, FIH cũng hứng chịu tình hình thất thu tương tự, nhưng ít ra còn được gỡ gạc ít nhiều khi tại khu vực này, FIH còn đảm nhiệm việc lắp ráp smartphone cho Xiaomi và Huawei – hai hãng đã có một năm bùng nổ về mặt doanh số (và smartphone của họ trớ trêu thay cũng là đối thủ cạnh tranh của Nokia).

Những số liệu phức tạp về doanh thu và lợi nhuận thuần của FIH Mobile cho thấy sự đắt đỏ của thương hiệu Nokia. Như đã nói ở trên, doanh số bán ra của các điện thoại Nokia do HMD và FIH sản xuất không hề kém: trong năm 2017, đã có đến 8,7 triệu smartphone Nokia được bán ra; số lượng điện thoại cơ bản còn lớn hơn, lên đến 59,2 triệu máy, trong đó chỉ riêng quý 4/2017 đã là 20,7 triệu máy.

Biểu đồ riêng tại khu vực châu Âu, sau khi FIH hợp tác cùng HMD sản xuất điện thoại Nokia.

Vậy chúng ta rút ra được gì từ cuộc hồi sinh tốn kém của Nokia? Rõ ràng việc mua lại quyền sở hữu một thương hiệu nổi tiếng cũng chẳng đảm bảo được điều gì. Hồi sinh một thương hiệu là một việc cực kỳ khó khăn và đắt đỏ. Dù lịch sử thương hiệu và khả năng nhận diện của người dùng có thể giúp sản phẩm của bạn được chú ý hơn bởi giới truyền thông, nhưng nó không đảm bảo doanh số bán ra của sản phẩm đó. Cũng cần nói rằng, chúng ta chưa thấy lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của FIH và HMD, không có nghĩa chúng ta sẽ vĩnh viễn không thấy.

Hãy hỏi Microsoft về kết quả của việc hồi sinh thương hiệu Nokia – lần hồi sinh đầu tiên của thương hiệu Phần Lan này. Đó là vào năm 2013, khi Microsoft bỏ ra 7,2 tỷ USD để có thể tự tay mình phát triển dòng sản phẩm Lumia lúc đó đang cực kỳ đắt hàng, cùng một số dòng feature phone khác như Asha chẳng hạn.

Người ta ước tính rằng Microsoft cuối cùng đã lỗ đến 8 tỷ USD, và rồi phải chấp nhận từ bỏ Windows Phone (dù vậy, hãng cũng thu được một số tiền rất lớn từ việc bán bằng sáng chế cho Samsung). Thương hiệu Nokia cũng chính là chất xúc tác khiến Steve Ballmer – CEO Microsoft lúc đó – mất chức, và sự lên ngôi của CEO hiện tại Satya Nadella – người đã lèo lái con thuyền Microsoft đứng vững giữa sóng dữ (hay nói rằng ông đã giúp Microsoft… quay đầu 180 độ về phía bờ thì cũng không sai).

Chúng ta cũng đang chứng kiến BlackBerry trải qua một quá trình tương tự, khi công ty BlackBerry nguyên gốc ngừng sản xuất các thiết bị của chính mình và chuyển sang làm phần mềm.

Nokia X2 – smartphone Android với giao diện không khác gì Windows Phone.

Hiện các thiết bị BlackBerry đang được sản xuất bởi nhà sản xuất Trung Quốc TCL, và số lượng máy bán ra trong năm 2017 vô cùng nghèo nàn: chưa đến 1 triệu. So với năm 2013, chỉ trong Quý 2 đã có đến 6,8 triệu máy được bán ra, và bạn có thể thấy cạnh tranh với những ông lớn khó khăn đến chừng nào.

Nokia được đón nhận nồng nhiệt tại thị trường Ấn Độ, cùng với châu Âu – nơi doanh số smartphone lẫn điện thoại cơ bản đều rất khả quan. Bước tiếp theo của Nokia, với vũ khí là 5 mẫu điện thoại đã được giới thiệu tại MWC 2018, sẽ là mang mẫu flagship Nokia 8 Sirocco, mẫu tầm trung Nokia 6, và mẫu “quả chuối” Nokia 8110 4G vào thị trường Mỹ. Nokia sẽ không hợp tác với các nhà mạng – một bước đi có khả năng khiến doanh số bán ra của các thiết bị bị ảnh hưởng nghiêm trọng, trong bối cảnh chiếc Nokia 6 sẽ chính thức được bán ra vào tháng 5 tới. Đó sẽ là một sự thử nghiệm đắt giá, nguy cơ cao, trên một thị trường smartphone phân khúc tầm trung vốn đã quá đông đúc, và lại không được nhà mạng hỗ trợ nhằm tăng doanh số. Chưa kể, liệu có ai đảm bảo rằng người Mỹ sẽ chào đón Nokia như người châu Âu?

Sự trở lại của Nokia, ngạc nhiên thay, đang khiến Foxconn thất thoát một lượng kha khá tiền bạc dù đã đạt được những thành công nhất định. Nhưng với Foxconn đằng sau lèo lái, HMD sẽ cứ vui khi thấy doanh thu tăng trước, còn lợi nhuận, để sau cũng được!

Sau Alibaba, đến lượt Amazon đổ bộ vào Việt Nam

Giống như Alibaba, Amazon sẽ đổ bộ vào thị trường Việt Nam bằng các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ bán hàng, song song với việc xuất khẩu qua hệ sinh thái của Amazon.

Sau Alibaba, đến lượt Amazon đổ bộ vào Việt Nam

Amazon sắp đổ bộ vào thị trường Việt Nam. Ảnh: Ayola TV

Theo thông tin từ Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), tại Diễn đàn Toàn cảnh Thương mại điện tử Việt Nam VOBF 2018 diễn ra vào ngày 14/3 tới đây, Amazon sẽ khởi động một chương trình hợp tác cùng Hiệp hội để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam có thể bán hàng, xuất khẩu qua hệ sinh thái của Amazon.

Sau những thăm dò ban đầu, đây sẽ là động thái đầu tiên của Amazon trên thị trường thương mại điện tử Việt Nam.  Và, có vẻ như Amazon đang đi theo cách của Alibaba trước đó – hợp tác với các đại diện Việt Nam để khuyến khích doanh nghiệp vừa và nhỏ xuất khẩu qua kênh của họ.

Thông tin đại gia thương mại điện tử Mỹ đổ bộ thị trường Việt Nam bắt đầu xuất hiện từ hồi cuối năm ngoái. Theo chia sẻ từ đại diện VECOM, sau buổi làm việc cùng đại diện của Amazon, doanh nghiệp Mỹ này bày tỏ muốn hỗ trợ khách hàng Việt mua, bán hàng trên Amazon.

Đặc biệt, họ muốn hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa xuất khẩu qua hệ sinh thái của Amazon.

Theo đánh giá của VECOM, tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử của Việt Nam năm 2017 đạt trên 25% và tốc độ này có thể được duy trì trong giai đoạn 2018 – 2020.

VINFAST sản xuất ô tô điện và ô tô cỡ nhỏ

Ngày 8/3/2018, Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh VINFAST – một thành viên của Tập đoàn Vingroup công bố 36 mẫu thiết kế dòng xe điện và xe động cơ đốt trong cỡ nhỏ tiêu chuẩn quốc tế.

VINFAST sản xuất ô tô điện và ô tô cỡ nhỏ

Đây là lần đầu tiên, một doanh nghiệp Việt tham gia sản xuất xe điện, đánh dấu bước đột phá cho sự phát triển và hội nhập của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam và góp phần mang cơ hội sở hữu xe hơi đến đại chúng.

Xe điện và xe cỡ nhỏ VINFAST sẽ ra mắt thị trường vào cuối năm 2019, nhanh hơn dự kiến gần 1 năm, khẳng định mục tiêu trở thành nhà sản xuất ô tô hàng đầu Đông Nam Á của VINFAST, với các sản phẩm toàn diện ở dòng xe động cơ đốt trong (phân khúc Sedan, SUV, hatchback) và xe điện.

vinfast-1-doanhnhansaigon-4788-152049511

Đối với xe điện, VINFAST quyết định đầu tư mạnh mẽ nhằm tạo sự đột phá trên bản đồ ô tô Việt Nam và toàn cầu. Dây chuyền sản xuất sẽ được ứng dụng công nghệ hàng đầu thế giới tính đến thời điểm hiện nay nhằm cho ra đời những chiếc xe chạy bằng điện thân thiện với môi trường, phù hợp với sự phát triển và xu hướng mới nhất của ngành ô tô trên thế giới.

Bên cạnh đó, dòng xe cỡ nhỏ được phát triển với mục tiêu đưa cơ hội sở hữu xe ô tô chất lượng quốc tế với mức giá phù hợp đến đông đảo khách hàng.

“Xe điện là chiếc xe của tương lai. Với sứ mệnh tiên phong và mong muốn tạo sự đột phá trên thị trường xe hơi, chúng tôi quyết định sản xuất xe điện ngay thời điểm này. Bên cạnh đó, VINFAST cũng sẽ sản xuất xe cỡ nhỏ, bên cạnh 2 mẫu Sedan và SUV để phục vụ nhu cầu trong nước hiện tại”, ông Nguyễn Việt Quang – Phó Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Vingroup chia sẻ.

vinfast-2-doanhnhansaigon-8991-152049511

Để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng chiếc xe mang bản sắc Việt Nam vươn tầm quốc tế, VINFAST tiếp tục kêu gọi sự chung tay của cộng đồng trong việc đóng góp ý kiến cho những mẫu phác thảo thiết kế xe. Trong thời gian từ 14h ngày 8/3 đến hết ngày 18/3/2018, người tiêu dùng có thể tham gia chương trình “Chọn xế yêu cùng VINFAST – 2” để bình chọn 2 thiết kế xe điện và xe cỡ nhỏ yêu thích nhất tại website

36 bản thiết kế phác thảo, bao gồm 17 mẫu xe điện và 19 mẫu xe cỡ nhỏ được sáng tạo bởi những studio danh tiếng như Ital Design, One One Lab, Pininfarina, Torino Design – nơi khởi nguồn sáng tạo của ngành công nghiệp ô tô toàn cầu. Điểm chung của những mẫu thiết kế xe VINFAST mới đưa ra đợt này là phong cách “Trẻ trung – Hiện đại – Sang trọng – Hướng tới tương lai”.

Với các mẫu thiết kế xe điện, nhà thiết kế Italdesign đưa tới những mẫu thiết đơn giản, tinh tế, gọn gàng; trong khi đó các mẫu của Pininfarina lại có đường nét góc cạnh nhưng không kém phần hài hòa, uyển chuyển. Nhà thiết kế One One Lab mang đến những bản phác thảo cá tính, năng động và hầm hố trong lần đầu tiên làm việc với VINFAST.

vinfast-3-doanhnhansaigon-9897-152049511

Đối với xe cỡ nhỏ, Italdesign tiếp tục nhấn mạnh phong cách thể thao với các đường nét dứt khoát; Torino Design với thiết kế sắc sảo, mạnh mẽ; trong khi đó, Pininfaria gây ấn tượng khi kết hợp hài hòa yếu tố năng động với những đường nét dập nổi khỏe khoắn, trong đó có những mẫu được lấy cảm hứng từ mắt xếch Á Đông hay cánh chim lạc.

Mỗi mẫu đều được thể hiện từ các góc khác nhau về kiểu dáng và các bộ phận của xe để từ đó người tiêu dùng có thể đưa ra lựa chọn phù hợp. Ngoài việc được thể hiện ý kiến về mẫu xe yêu thích nhất, khách tham gia bình chọn còn có cơ hội nhận các giải hấp dẫn. Tổng giá trị giải thưởng của cuộc thi lên tới 800 triệu đồng, trong đó, giải nhất cuộc thi có trị giá lên đến 200 triệu đồng dành cho người có bình chọn xuất sắc nhất ở 2 hạng mục xe điện và xe cỡ nhỏ. Ngoài ra, VINFAST cũng sẽ tổ chức nhiều minigame thú vị trên Fanpage để khách hàng có thể trực tiếp tham gia chia sẻ cũng như góp ý về các mẫu xe.

Với phương châm tạo ra dòng xe những chiếc xe với đặc điểm “Bản sắc Việt – Thiết kế Ý – Kỹ thuật Đức – Tiêu chuẩn quốc tế”, VINFAST đang dồn toàn bộ nguồn lực, hợp tác với các tên tuổi hàng đầu thế giới như Bosch, Siemens, Magna Steyr, BMW, AVL…, cũng như khẩn trương hoàn thiện nhà máy tại khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải (Hải Phòng) để phát triển ra những chiếc xe an toàn, sang trọng, hiện đại, đẳng cấp thế giới, sẽ ra mắt thị trường vào tháng 9/2019.

Giải thưởng

1 giải Nhất: 1 voucher trị giá 200 triệu đồng để mua sản phẩm của VINFAST dành cho người:

(i) Bình chọn đúng cả hai mẫu xe điện và xe cỡ nhỏ có tỷ lệ bình chọn cao nhất.

(ii) Dự đoán đúng tỷ lệ bình chọn thực tế cho 2 mẫu xe.

2 Giải Nhì: mỗi giải là 1 voucher 50 triệu đồng để mua sản phẩm của VINFAST, dành cho:

01 Người tham gia chương trình có bình chọn mẫu xe điện và 01 Người tham gia chương trình có bình chọn mẫu xe cỡ nhỏ được nhiều người bình chọn nhất và có dự đoán % số người bình chọn giống mình đúng hoặc gần nhất nhưng không đạt giải Nhất

30 Giải Ba: mỗi giải 1 voucher khách sạn Vinpearl, 3 ngày 2 đêm, dành cho:

15 người tham gia chương trình có bình chọn mẫu xe điện và 15 người chơi có bình chọn mẫu xe cỡ nhỏ được nhiều người bình chọn nhất và có dự đoán % số người bình chọn giống mình đúng hoặc gần nhất nhưng không trúng Giải Nhì.

100 giải Khuyến Khích: mỗi người 1 Thẻ VinID Giftcard 2 triệu đồng, dành cho:

Tất cả người tham gia chương trình hợp lệ (không trúng giải nhất, giải nhì và giải ba) sẽ có cơ hội trúng giải khuyến khích thông qua lựa chọn ngẫu nhiên trên trang web:

Ngoài ra, khách hàng có cơ hội giành được 50 thẻ VinID Giftcard trị giá 1 triệu đồng khi tham gia minigame trên mạng xã hội, fanpage VINFAST trong quá trình tổ chức chương trình.

Thông tin về 4 studio thiết kế

• Italdesign: Studio thiết kế có trụ sở tại Turin, Italia; được thành lập bởi nhà thiết kế huyền thoại Giorgetto Giugiaro vào năm 1968 (2018 cũng là năm kỷ niệm 50 năm thành lập của Italdesign). Italdesign được biết đến với các mẫu thiết kế kinh điển như BMW Nazca C2; Lamborghini Cala; Volkswagen W12 Roadster; Alfa Romeo Brera; Maserati MC12

• One One Lab: Studio trẻ có trụ sở tại Lodz, Ba Lan. One One Lab hướng tới phong cách trẻ trung, hiện đại; đề cao yếu tố con người và sự khác lạ.

• Pininfarina: Studio thiết kế có trụ sở tại Cambiano, Italia; được thành lập từ năm 1930 bởi nhà thiết kế Battista Pininfarina. Pininfarina nổi tiếng là studio thiết kế ra phần lớn các mẫu xe Ferrari; nổi bật trong số đó là Ferrari Dino, Ferrari Daytona, Ferrari F40, Ferrari Enzo, Ferrari Testarossa, Ferrari 458 Italia, Ferrari FF, Ferrari F12 Berlinetta. Pininfarina cũng là cha đẻ của Maserati Quattroporte, Maserati GranTurismo, BMW Gran Lusso Coupe.

• Torino Design: Studio tới từ Turin, Italia; được thành lập vào năm 2006 bởi nhà thiết kế Roberto Piatti. Torino Design đã hợp tác với nhiều hãng xe lớn như BMW, Ferrari, McLaren, Piaggio.